Thứ Ba, 24 tháng 12, 2019

HAI BÀI THƠ MỘT NIỀM TIN




                                    HAI BÀI THƠ MỘT NIỀM TIN


1/ CHẮC NGÀI KHÔNG NGHE THẤY

Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho
                    (Mathew 7:7)

Khi siêu bão Haiyan
đang gầm gừ ở hướng đông
đài khí tượng tiên đoán
bão sắp tràn vào Tacloban (1)

Hơn 90 phần trăm dân ở đây
là con Chúa
sấp mình cầu nguyện
xin Chúa xót thương

Khi bão rít trên đầu
sóng biển dâng cao
tiếng kêu cầu càng lớn
càng khẩn thiết

Bão yên, nước rút
cảnh tượng thật kinh hoàng
thành phố tan hoang
xác người nằm xếp lớp

Cha xứ
mở cửa
ngôi giáo đường đổ nát
Chúa Giê-Su vẫn ngoẹo đầu
dang tay trên thánh giá
sợi dây điện
lủng lẳng dưới tai

Ai đó đã đeo cho ngài
một bộ máy trợ thính

Chú Thích:

1/ Thủ phủ của Leyte

“Many of you lost everything. I don’t know what to say to you. Many have asked, why, Lord?” He said: “All I can do is keep silent.”  (Pope Francis said when visited Tacloban on 01/17/2015, 14 months after the Super Typhoon Haiyan.)

“Nhiều người trong số các con đã mất tất cả. Ta không biết phải nói gì với các con. Nhiều người đã hỏi, tại sao, Chúa ơi?” Rồi ngài nói: “Tất cả ta có thể làm là im lặng”( Đức Giáo Hoàng Francis nói khi viếng thăm Tacloban hôm 01/17/2015, 14 tháng sau Siêu Bão Haiyan.)



2/ NGÀI  NGHE, THẤY VÀ BIẾT HẾT

Dù người đời nói ngả, nói nghiêng
tôi vẫn tin
có một Thiên Chúa toàn năng
ngài nghe, thấy, và biết hết
mọi chuyện ở thế gian
“một sợi tóc trên đầu rụng xuống
cũng không ngoài thánh ý của ngài”

Tôi cũng tin
ngài yêu mến loài người
và chính ngài đã tạo nên vũ trụ
những quy luật vận hành của nó
trong đó có quy luật của linh hồn

Tâm trong sáng
ăn ở hiền lành
sẽ sống giữa cảnh thiên đàng
ngay trên mặt đất
khi chết
hồn sẽ bay về chốn an lạc

Lòng dạ tối đen
hành xử nham hiểm, độc ác
sẽ sống giữa lửa thiêu địa ngục
dù giàu có
cửa rộng
nhà cao
và khi từ giã kiếp người
sẽ phải đọa xuống một nơi
rất xa Thiên Chúa.

Ôi Thiên Chúa lòng lành vô cùng
ngài là ngọn đuốc
đưa con người tránh xa địa ngục
hướng đến thiên đàng

Nhưng những chuyện sống chết, thành bại, sướng khổ
của thế gian
chuyển động của đất trời vạn vật
ngài tạo ra quy luật
và để chúng tự vận hành

Những ai rao giảng
rằng cứ tin
cứ thành khẩn cầu xin
là điều gì Chúa cũng sẽ cho toại nguyện
hoặc là họ không “hiểu chuyện”
hoặc là họ phỉnh lừa
ngài đâu phải phù thủy, thầy bùa
có người dâng lễ vật van xin
là “hô phong hoán vũ”

Riêng tôi
đã nguyện tin thờ Thiên Chúa
hàng đêm tâm sự với ngài
những suy nghĩ, lời nói, hành động trong ngày
tôi trải lòng ra
để đúng sai ngài chỉ bảo

Nhưng những chuyện
vợ đẻ con đau
gạo tiền cơm áo
sự nghiệp công danh
thế giới hòa bình hay chiến tranh
núi lửa, bão lụt
sóng thần hay động đất
dĩ nhiên
là ngài biết hết
nhưng như một Quân Vương
chính trực công minh
ngài lặng yên
để quy luật tự nó vận hành

Vì ngài là Thiên Chúa
nhân loại kính mến ngài vì lẽ đó.


Lời Trần Tình

Tình cờ gặp người bạn - một thời làm cùng nghề - có vợ người Philippines. Anh bạn cho biết đang mua sắm chút ít để vợ về Tacloban (Phillippines) thăm đứa cháu (con người anh ruột) còn sống sót sau siêu bão Haiyan. Cả cha mẹ và chị gái cháu đều bị chết thảm trong cơn bão này.

Chị vợ vừa khóc bù lu bù loa vừa nói, giọng trách móc: “Thật tội nghiệp! Anh chị là con chiên ngoan đạo lại hiền lành, tốt bụng, cả làng ai cũng quý mến, kính trọng mà lại gặp tai họa khủng khiếp như thế. Trước khi bão vào anh chị bên ấy và cả tôi bên này hết lòng cầu xin Chúa mà Ngài có chịu nghe đâu.”

Tôi xúc động rồi nổi hứng, ngay tối hôm ấy đã viết xong bài thơ.

Chắc Ngài Không Nghe Thấy được viết theo lối Kiếm Tông – chú trọng cái đẹp của ngôn ngữ, hình tượng, biện pháp tu từ.

Là người thường làm thơ theo lối Khí Tông nên khi chuyển qua Kiếm Tông ngôn ngữ thơ vẫn rất bình dị, đời thường. Hình thức bài thơ, theo thói quen, không bị trói buộc. Vần thoang thoảng. Hồn cốt bài thơ được dồn vào chút “tiểu xảo” ở đoạn kết, nói bóng gió về việc Chúa “không nghe” lời cầu xin của dân Phi.

Mãi đến khi Đức Giáo Hoàng Francis qua thăm Tacloban rồi tâm tình về sự bất lực của mình trước câu hỏi “Tại sao, Chúa ơi?” của giáo dân, tôi mới dám phổ biến bài thơ – nhưng cũng không quên kèm theo phát biểu của Đức Giáo Hoàng để hy vọng được “an toàn trên xa lộ”



 Bài thứ hai - Ngài Nghe, Thấy Và Biết Hết - được viết để giải thích.

Làm thơ, theo các bạn Mỹ của tôi, (tùy trạng thái tâm của thi sĩ) có 3 mục đích:

1/ Reason with them: Nói lý lẽ với độc giả

2/ Share your feelings with them: Chia sẻ tâm tình với độc giả

3/ Get it off your chest: Mở van cho tâm tình, cảm xúc trào tuôn ra khỏi ngực bạn (để khỏi óc ách)

“Mở van cho tâm tình, cảm xúc tuôn ra khỏi ngực” là thượng sách. Với tâm trạng này, nếu thể thơ thích hợp, bài thơ có cơ hội là tiếng lòng chân thật (hồn thơ lai láng).

“Chia sẻ tâm tình với độc giả” sẽ tạo được bài thơ dạt dào cảm xúc nhưng chưa thể nhiều đến mức có hồn thơ.

“Nói lý lẽ với độc giả” là hạ sách. Làm thơ với tâm trạng này thì lý trí sẽ nắm quyền lèo lái nên dù kỹ thuật có siêu cách mấy bài thơ cũng khô cứng, ít cảm xúc, đọc rất chán.

Bài Ngài Nghe, Thấy Và Biết Hết tuy viết theo lối Khí Tông nhưng mục đích lại để “nói lý lẽ” về đề tài tôn giáo - vừa khó nhai, vừa dễ đụng chạm – nên tuy tứ thơ chảy thành dòng nhưng toàn lý lẽ, rất ít cảm xúc, đọc như nhai giẻ rách, rất mệt và rất buồn ngủ.

Với tôi, đây là một trong số những bài thơ thất bại của mình.



PHẠM ĐỨC NHÌ







Thứ Tư, 9 tháng 10, 2019

SÀI GÒN MỘT CHIỀU EM LỖI HẸN





(Lời cảm ơn chân thành xin gởi đến em, người phụ nữ đã đi qua đời anh lúc còn son trẻ, để lại nhiều kỷ niệm ngọt ngào, sâu đậm. Ngay cả cái vị “đăng đắng” trong bài thơ này cũng có cái “hậu” dìu dịu rất dễ thương nơi đầu lưỡi. Chúc em luôn khỏe mạnh, vui tươi, hạnh phúc nơi phương trời xa xôi ấy.)


Sao em nỡ tiếc anh
một chiều hò hẹn
khi chúng mình đã nguyện
cho nhau hết cả những ngày xuân?

Trời chiều nay trong xanh
lang thang ngoài phố
anh nghe lòng mình
ngập tràn thương nhớ

Đây quán nước
hôm nào hai đứa
ngồi bên nhau
nhìn ly kem óng ánh mấy màu
sao em nói
“Em yêu chỉ mình anh thôi” nhỉ?

Gió thổi tóc anh bay nhè nhẹ
như chiều nào đứng đợi trước công viên
Ồ kia rồi! Vóc dáng thân quen
em như nàng tiên
mỗi lần đến mang một niềm vui mới

Còn nhớ không? Có lần anh lấn tới
cũng một buổi chiều
em vẽ một lằn ranh
“Đây là ‘biên giới’
đừng bao giờ vượt quá nghe anh”

Đường chiều dập dìu áo đỏ áo xanh
chẳng áo nào đẹp bằng chiếc áo em thường mặc
hàng ngàn khuôn mặt
chẳng ai duyên dáng bằng người anh yêu

Tình đôi ta
đẹp quá
những buổi chiều
dù trời mưa hay nắng
cả Sài Gòn chiều nay im vắng
chỉ vì bên anh thiếu buớc chân em.



Thứ Năm, 12 tháng 9, 2019

Gặp Chúa

Hàng ngàn lần, hàng vạn lần ngộ nhận

Hôm nay ta mới gặp được ta

Chúa ở khắp mọi nơi, ánh sáng chan hoà

Ta chợt thấy Thiên Nhan khi lắng nghe từng nhịp thở.

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018

ĐÀ LẠT TRONG TÔI


Nhắc đến Đà Lạt
đám bạn tôi
thằng mắt lim dim
thả hồn về quê cũ
thằng nhớ mái trường xưa
một thời hiên ngang dưới bóng quân kỳ


Thằng khác
nhớ những chiều se lạnh
ngồi nhìn
giọt đen buồn sóng sánh
trong Cà Phê Tùng

Có đứa nhớ sáng chủ nhật tươi hồng
cùng người yêu dạo bước
trên Sân Cù cỏ mướt
một màu xanh

Đà Lạt trong tôi là ngôi nhà xinh
trên triền dốc
xa xa
Viện Đại Học
thấp thoáng trong sương mờ

Dã Quỳ trải thảm vàng
bâng khuâng chiều nắng nhạt
lữ khách thẫn thờ
mơ mộng 
ngắm Xuân Hương

Ôi! Ngôi nhà thân thương
có người
ngồi bên khung cửa sổ
như hoàng hôn lặng lẽ
thả hồn vào mộng vào mơ
cùng tôi
chung dệt mối tình thơ

Phạm Đức Nhì

BÀI THƠ KHÔNG TỰA




Bài thơ viết cuối năm 1996, có tựa đàng hoàng, nhưng vì lúc ấy mới tập tành computer nên khi copy rồi paste vào mail, cái tựa không hiểu sao biến mất.
Mấy người bạn FW bài thơ đi khắp nơi và được mọi người ưa thích. Nhận thấy khi đọc đến cuối bài ai cũng có thể đặt tựa cho bài thơ rất chính xác nên hôm nay, kỷ niệm bài thơ được 19 tuổi, xin gởi bài thơ (cũng vẫn không có tựa) đến bạn đọc để cùng sống lại một giai đoạn lịch sử "không thể nào quên" của dân tộc.
Phạm Đức Nhì


BÀI THƠ KHÔNG TỰA           

Tự do như muối
hạnh phúc như đường
khi  còn đang ăn đủ miếng ngọt miếng ngon
khó thấy được giá trị của hạt đường hạt muối

Tôi sống ở miền nam
nhìn dòng đời trôi nổi
nở lại tàn
bao nhiêu mùa hoa
hai nền Cộng Hòa
một cuộc chiến tranh dài đẫm máu

Tôi đã dốc lòng chiến đấu
bảo vệ tự do
dưới lá cờ
nền vàng ba sọc đỏ

Tiếc thay trong đội ngũ
chúng tôi có hơi ít những Ngô Quang Trưởng , Nguyễn Khoa Nam
mà lại khá nhiều Nguyễn Vĩnh Nghi, Nguyễn Văn Toàn
nên lính mất niềm tin
dân chán nản
những kẻ có lòng
lắc đầu ngao ngán

Rồi nước Mỹ đồng minh
xưa là bạn
nay trở mặt lọc lừa
quên lời hứa năm xưa
bỏ mặc “tiền đồn của thế giới tự do”
thất thủ

Kẻ thù đưa tôi lưu đày biệt xứ
rồi khua chiêng gióng trống ăn mừng

Đám trí thức, sinh viên, học sinh
xưa trốn vô bưng
mơ một thiên đường trên trái đất
nay ngồi trên khán đài nghếch mặt
“Thiên đường đang ở trong tầm tay”

Má Hai
xưa đào hầm nuôi cán bộ
nay hớn hở
“Tụi nó dzià mình chắc có tương lai”

Bà Tám
con chết trận Đồng Xoài
hí hửng lãnh bằng
Gia Đình Liệt Sĩ

Những nhà soạn nhạc, nhà văn, nhà thơ,
xưa chống  “cuộc chiến tranh phi lý”
(đâm sau lưng người lính Cộng Hòa)
nay chìa bút ra
xin viết bài ngợi ca chế độ mới

Đám thanh niên
xưa trốn chui trốn nhủi
ở hậu phương
xanh mặt
khi nghe nhắc tới chiến trường
nay tự nhận
đã yêu thầm cách mạng

Những người dân bình thường
xưa gặp lính
 khi ghét khi thương
lúc buồn ngồi chửi đổng
“Tao chửi cả thằng Tổng Thống
xá gì lính tráng tụi bay”
nay cũng ngập ngừng vỗ tay
nhưng mắt nhìn quanh lấm lét
họ chưa có câu trả lời dứt khoát
muốn đợi một thời gian

Sau vài năm
cuộc hôn nhân qua tuần trăng mật
đã đầy nước mắt
và những tiếng nấc nghẹn ngào

Đám trí thức vô bưng năm nào
tức giận thấy mình bị bội phản
buông lời phản kháng
kẻ vô khám Chí Hòa
người bị quản thúc tại gia
đuổi gà cho vợ
thiên đường ước mơ sụp đổ

Má Hai
đã quen dần với bo bo, với sắn với khoai
như người dân miền bắc
những cán bộ
xưa má nuôi trong hầm bí mật
đã ra lệnh bắt má mấy lần
má làm không đủ ăn
lấy lúa đâu đóng thuế

Bà Tám
ôm tấm bằng Gia Đình Liệt Sĩ
bụng đói meo
làng trên xóm dưới ai cũng nghèo
tình người hiếm hơn hồi đó
bà ra mộ con ngồi nhổ cỏ
khóc thầm

Những văn nhân
một thời phản chiến
biện minh “ngộ biến tòng quyền”
cố o ép trái tim
“cho giống môn đồ của Lê-Nin, Kác-Mác”

Nhưng với văn thơ, với nhạc
quen phóng túng tự do
sao chịu nổi gông xiềng
lại tiếc những ngày
trời rộng thênh thang
múa bút

Đám thanh niên hèn, khoác lác
tưởng được chế độ mới tin dùng
bị đi lao động quốc phòng
thanh niên xung phong
làm việc không công
nơi rừng sâu nước độc
cháy da vàng mắt
đói lòng

Những người dân
xưa chửi vung chửi vít
nay im thin thít
chẳng dám hé môi
một số kẻ lỡ lời
bị đi “ tù không án “

Khi cán bộ xưng tụng bác Hồ
ca ngợi Đảng
họ cao giọng hoan hô
vỗ tay thật to
nhưng bụng thầm ao ước
được sống lại những ngày xưa cũ

Sau ba mươi tháng tư
đớn đau tủi hổ
là gia đình người lính Cộng Hòa
kể bị cướp nhà
người bị cướp đất
con bị đuổi học
vợ mất sở làm
chồng đi tù biệt tăm
đi họp
cán bộ mỉa mai nhiếc móc
ra đường
bị lườm dọc nguýt ngang

Đến khi ruộng vô tập đoàn
gạo vải sữa đường
bán theo tiêu chuẩn
nhà máy công ty hãng xưởng
trở thành quốc doanh
công an khu vực
đầy quyền hành
thực thi chính sách nhân hộ khẩu
người dân chịu đời không thấu
mà chẳng dám than vãn kêu ca

Bấy giờ gia đình người lính Cộng Hòa
mới nhận được những tia nhìn thiện cảm
nghĩ đến con, đến chồng, đến cha
trong nhà tù cộng sản
họ hãnh diện ngẩng đầu

Hôm nay giữa trời cao
được thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ
phất phới bay trong gió
tôi muốn khóc thật to
tôi muốn hét lên
“Đây hạnh phúc ! Đây tự do!”
mà thuở nào
tôi đã buông tay đánh mất
để phải chôn tháng năm tươi đẹp nhất
của cuộc đời
trong các trại tù
rải rác khắp nơi
trên đất nước

Họ hàng tôi, đồng bào tôi
những ai không đi được
mấy chục năm trường
gánh chịu đau thương
uất hận tủi hờn
nhìn quê hương tan nát

Mẹ Việt Nam ơi ! Những đứa con lưu lạc
đã nhận rõ lỗi lầm
đang đấu tranh âm thầm
cho một ngày quang phục

Sẽ còn nhiều khó nhọc
để dành lại giang san
từ tay bọn cộng sản tham tàn
nhưng kìa ! Phất phới bay trong gió
vẫn như ngày nào
lá cờ vàng ba sọc đỏ
mà sao hôm nay
chính nghĩa sáng ngời
chẳng cần một lời
luận bàn lý giải

Tôi đứng lặng nhìn, lòng khoan khoái
lá cờ vẫn còn đây
thì quê hương ơi ! Sẽ có một ngày!

Viết tại San Leon sau khi dự lễ dựng kỳ đài tại Houston 1996

Phạm Đức Nhì

The just Cause Flag

Freedom is like salt

Happiness is like sugar

When you have big meals with good food

It’s difficult to understand the value of a grain of salt, of sugar



I live in South Viet Nam

Looking at the flow of life

Blooming and withering

How many seasons

Two Republics

A long and bloody war

I put my best in the fight

To protect freedom

Under the flag

Yellow background and three red stripes





Unfortunately in our ranks

There were so few Ngo Quang Truong, Nguyen Khoa Nam

But too many Nguyen VinhNghi, Nguyen Van Toan

To make our troops lose their faith

Our people become discouraged

People with a kind heart

Just shake their head in frustration

Then the U.S., our former ally

Now changes its stand

Forgetting its previous promises

Leaving the “advance outpost of the free world”

To its loss

The enemy put me in exile

While they shout from the housetops in celebration

The scholars, students

Who fled in the jungles in the past

Dreaming of paradise on earth

Now sit on the stage looking up

“Paradise is within reach”

Mother Hai

In the past dug secret undergrounds to feed the cadre

Now is joyous

“They are here now, I’ll have a good future”

Mrs. Tam having her son killed during the battle of Dong Xoai

Rejoices when receiving the certificate “Mother of the war hero”



The composer, the writer, the poet

During the war fought against the “unreasonable war”

(bybackstabbing the Republic of Viet Nam soldiers)

Now hold out their pens

Begging to write praising the new regime

The group of youngsters deep hiding in the past

At the rear

Turning pale face when talking about the battlefield

Now admit to “having loved in secret the revolution

Even from before dawn”



The common people

When meeting with the soldiers either like or don’t like

Sometimes curse

“I curse even the President

Not talking about you, simple soldiers”

Now clap their hands hesitantly

But their eyes do not look straight

They have not yet the definite answer

They prefer to wait a little more



After a few years

The honeymoon is over

Now full of tears

And choked with sobs

The scholars running into the jungle those years past

Become angry saying they are betrayed

Put out their protest

Some are put in the detention camp Chi Hoa

Others are in house arrest

Become good for nothing husbands

The dreamt paradise falling down



Mother Hai, now familiar with sorghum, tapioca and sweet potato

Like the people of the North

The cadre she fed them in the secret underground

Have given orders to arrest her several times

But she can’t make both ends meet

How can she have rice to pay the taxes



Mrs. Tam holding the certificate “Mother of the war hero”

With an empty stomach

From one place to the other everyone is so poor

The human feeling is rarer than before

She goes out to her son’s grave to root out the weeds

And cries in silence



The literature figures

Once anti-war

Justify “bow to circumstances”

Try to squeeze their heart

To look like the Lenin, Karl Marx disciples

But with the poems, the musical lyrics

Familiar with the free and unruly style

How can they bear the shackles

And regret the time with open skies

When they could write at will



The vile and boastful youngsters

Are accepted by the new regime

And they toil for the national defense

Or become the assault youth

Working without compensation in the deep jungles

With burned skin

And starvation



The common people

Once cursing at will

Now stay quiet as mice

They dare not open their mouth

Some who slip a word

Get “imprisoned without sentence”

When the cadre praise “uncle Ho”, the Party

They raise their voice in their cheers

Applaud loudly

But inside they wish to relive the ancient time



After April 30th, sorrowful and shameful

Are the families of the Republic of Viet Nam service-men

One gets his house taken

Another one gets his land seized

Their children get kicked out of school

Their wives lose their jobs

They, themselves, get imprisoned without trace

At the meetings, the cadre mock them ironically

In the streets they are side-long glanced at



When all the rice fields join the collectivity

Rice, sugar, fabric, milk are sold according to the criterion

Factories, companies, manufactures

Get nationalized

The local police full of authorities

Realize the policy of household registration

The common people are beyond endurance

And yet they dare not lament or complaint

Then only do the families of the Republic of Viet Nam soldiers

Get the sympathetic look

They think of their sons, their husbands, their fathers

In the communist detention camps

They feel proud and raise their heads high





Today, in the open sky

I can see the yellow flag with three red stripes

Fluttering in the wind

I want to cry aloud

I want to shout

“This is happiness! This is freedom!”

That once had disappeared from my hands

And I had to bury my most beautiful years

Of my life

In detention camps scattered all over

The country

My relatives, my people

Those who could not escape

For several tens of years

Have to bear the sorrows

Resentment and disgrace

When the country gets destroyed

Mother Viet Nam! Your children in exile

Have recognized their mistakes

And, in secret, fight

To restore you one day





There will be more difficulties

To re-conquer the fatherland

From the hands of the covetous and wicked communists

But look! Fluttering in the wind

Like the previous days

The yellow flag with three red stripes

Today shows the bright right cause





No need for words

Talking over or interpretation

I stand still, my heart elated

Our flag is still there

Oh! Fatherland! There will be someday!



Pham DucNhi

San Leon

After the ceremony of raising the flag tribune in Houston 1996